Cuồng Vọng Phi Nhân Tính

Cuồng Vọng Phi Nhân Tính-Chương 33


Trước Sau

Cuồng Vọng Phi Nhân Tính

Chương 33: Hộp Skinner

Mặc dù đã qua quen thuộc với tiếng gõ cửa theo ám hiệu quy định, nhưng La Gia Hải vẫn nhìn qua kính mắt mèo. Bị kẹt lại ở hành lang, anh T lo lắng nhìn xung quanh.

La Gia Hải mở khóa cửa, tiện tay gập con dao găm trên tay lại. Anh T nhanh như chớp lao vào phòng. Đặt hộp bánh ga tô lên bàn sau đó ngồi trên ghế thở hổn hển. “Làm sao mà lại mệt đến thế? “Ừ”. Anh T đưa tay lau mồ hôi, “Đi cầu thang bộ lên.” “Sao không đi thang máy?” “Thang máy có camera theo dõi không an toàn.” Nói đến đây, hai người bỗng im bặt. Ngồi thêm một lúc, La Gia Hải hỏi: “Tình hình hiện nay ra sao?” “K và Q vẫn ở trại tạm giam, Đ nằm ở bệnh viện.” Giọng anh T nhỏ và trầm, “H thì đã hỏa táng chiều qua.” “H là vì bảo vệ tôi,” La Gia Hải ôm đầu đau khổ, ra sức vò đầu bứt tai, “Nếu không anh ấy đã có cơ hội trốn thoát rồi.” “Câụ đừng nghĩ nhiều nữa, đây là tình huống ngoài ý muốn.” Anh T đặt tay lên vai La Gia Hải, “Với lại, H luôn cảm thấy mắc nợ cậu.” La Gia Hải ra sức lắc đầu, hai vai run rẩy. “Hiện nay điều may mắn là những người còn lại đều an toàn.” Anh T do dự một lát, “Cho dù Đ có tỉnh lại, tin rằng anh ta sẽ im như thóc, nếu không Q coi như hết.” “Tôi có thể làm được gì cho họ?” La Gia Hải ngẩng bộ mặt đầm đìa nước mắt lên, “Làm gì cũng được!” “Cậu bây giờ có một việc duy nhất phải làm là giữ gìn tốt chính mình.” Anh T day day trên vai La Gia Hải, “Khi tất cả mọi người quyết định cùng làm việc này, đều đã chuẩn bị tâm lý nếu xảy ra việc, cậu không nên nặng lòng quá. Một thời gian nữa, chúng ta sẽ góp cho gia đình Đ và H một ít tiền.” La Gia Hải lau nước mắt, gật đầu. Anh T cười, chỉ hộp bánh ga tô trên bàn: “Cậu bảo cần bánh ga ô, tôi mua cho cậu đây.” “Ồ, cảm ơn anh!” “Cậu cần bánh ga tô để làm gì, làm sinh nhật à?” “Không, để cho sinh hật của Thẩm Tương.” “Ra thế,” anh T biết La Gia Hải sẽ làm gì, đứng dậy nói: “Thôi, tôi không làm phiền cậu nữa!” “Anh T,” La Gia Hải bỗng nhiên nói: “Công việc của tôi… lúc nào thì tiến hành?” “Có lẽ phải đợi một thời gian.” Anh T lẩm bẩm, “Hiện nay tình hình hơi căng thẳng, K và Q trong thời gian này không thể tham gia hành động được. Cậu hãy kiên nhẫn một chút, khi thời cơ đến tôi sẽ thông báo cho cậu biết.” Sau khi anh T đi rồi, căn phòng lại rơi vào im lặng. La Gia Hải ngồi ngây như khúc gỗ, mắt nhìn vào hộp bánh ga tô. Nhìn thấy hộp bánh, La Gia Hải như lấy lại được một chút sức sống. Cậu mở hộp bánh ra, cắm từng ngọn nến lên trên chiếc bánh, châm lửa và với tay tắt đèn. Căn phòng nhỏ trở nên ấm áp nhờ ánh sáng lắt lay của những ngọn nến. La Gia Hải đứng ngây ra nhìn ánh sáng đung đưa, lay động trước mắt đang biến hóa kỳ ảo thành một người con gái thanh tú mặc áo trắng. Cậu cười, hai hàng nước mắt từ hốc mắt lã chã rơi xuống. “Chúc em… sinh nhật… vui vẻ, chúc em sinh nhật… vui vẻ…” La Gia Hải cất lời chúc nhẹ nhàng, rồi khe khẽ hát, nhưng nghẹn ngào không thành tiếng. Thẩm Tương, sinh nhật vui vẻ… Biên Bình phát hiện gần đây Phương Mộc rất khác thường, hôm nay đến Sở Dân chính, ngày mai phòng Hộ khẩu, thỉnh thoảng bắt gặp cậu ta ở Sở Công an tỉnh thì lại thấy lầm lũi ngồi trước máy vi tính tự tra tư liệu. Biên Bình cho rằng Phương Mộc có phát hiện gì đó rất quan trọng. Thử hỏi thì cậu ta trả lời úp úp mở mở. Biên Bình thấy trong lòng không được thoải mái. Anh cố gắng nhẫn nhịn không hỏi, mình là sư huynh của nó, lại là cấp trên, tốt xấu thế nào cũng phải ra dáng một tí. Không dễ dàng mà Phương Mộc lại chủ động đến tìm Biên Bình, thế mà câu đầu tiên khi anh mở miệng lại là câu khiến Biên Bình giật mình: “Sư huynh, tôi cần một khẩu súng!” Ngồi trong chiếc xe jeep, Phương Mộc cảm thất cái cục sắt nặng trình trịch ở bên hông khiến anh khó chịu. Lúc nãy khi vào chọn súng ở kho, Phương Mộc không chọn loại súng nhỏ như K64, hoặc K77 mà chọn loại K54 to nhất, nặng nhất. Không vì cái gì cả, chỉ vì cái thứ này trông có vẻ yên tâm. Thực ra đây cũng là quan điểm chung của anh em cảnh sát, thời khắc có ý nghĩa quyết định, dùng K54 là ít bị sự cố nhất, dễ sử dụng nhất. Mang theo súng là để đề phòng bất trắc, Phương Mộc tự đáy lòng thầm mong sẽ không phải sử dụng đến nó. Trên những cái cây bên ngoài Thiên sứ Đường được lắp những loa công suất lớn, một giọng nói khô khốc nhắc đi nhắc lại: “Hãy ý thức đến đại cục, tích cực phối hợp với chính phủ, tự giác di dời là nghĩa vụ của mỗi công dân…” Chị Thiệu nhìn thấy xe Phương Mộc đỗ ở cổng, đôi lông mày cứ nhíu suốt giờ đã nới ra một chút, chị tươi cười chào đón. “Cậu đến rồi à?” Chị mở cánh cổng sắt, “Cho xe vào trong này đi, đừng để ngoài đó.” Phương Mộc trong lòng đang có tâm sự, không muốn hàn huyên, nghe thấy câu nói ấy thấy hơi lạ, “Vì sao?” “Sợ cái lũ mất dạy kia nó phá xe của cậu.” Chị Triệu nhìn cái loa trên cây bĩu môi, “Mấy nhà gần đây chưa đồng ý đều bị chúng đập vỡ cả cửa sổ.” “Không sao.” Phương Mộc cầm tập hồ sơ lên rồi đóng cửa xe lại, “Thầy Châu có nhà không chị?” “Có.” Chị Thiệu tỏ ra dũng cảm, “Cậu cứ vào đi, tôi sẽ trông xe cho.” Phương Mộc “dạ” một tiếng, nhìn căn nhà nhỏ hai tầng, hít một hơi thật sâu rồi bước những bước dài đi lên. Thầy Châu đang sửa chữa một cái giường trong một phòng ngủ, ông tỏ ra bất ngờ khi thấy Phương Mộc đến, cười ha ha, hỏi: “Cậu đến có việc gì vậy?” Phương Mộc không cười, nói thẳng: “Thầy Châu, em muốn nói chuyện với thầy.” “Được thôi!” Thầy Châu cảm thấy sắc mặt của Phương Mộc hơi lạ, ra hiệu cho anh ngồi xuống, “Liên quan đến Liêu Á Phàm à?” “Không ạ!” Phương Mộc nói dần từng chữ, “Liên quan đến Thẩm Tương.” Thầy Châu như bị sét đánh ngang tai, toàn thân run rẩy, chiếc cờ lê trong tay rơi đánh choang xuống đất. Phản ứng của thầy Châu càng củng cố thêm phán đoán của Phương Mộc, anh thản nhiên hỏi: “Thầy biết Thẩm Tương, đúng không?” Thầy Châu như mất đi sức lực vốn có, dựa vào thành giường rồi từ từ ngồi xuống, một lúc sau mới thì thầm: “Làm sao cậu biết được?” “Ngày 23 tháng 1, thầy đến nghĩa trang Long Phong thắp hương cho Thẩm Tương đúng không ạ?” Thầy Châu run cầm cập, lát sau, ông nói nhỏ: “Cho tôi xin điếu thuốc!” Phương Mộc móc bao thuốc đưa cho ông, nhìn ông run run móc ra một điếu, sau khi châm lửa hút liền hai hơi liền. “Thầy Châu,” Phương Mộc nhìn thẳng vào cặp mắt thất thần của ông, “Rốt cuộc thì thầy là loại người gì?” Trông thầy Châu rất đau khổ, ông hơi nhắm mắt, lắc đầu, như đang cố gắng thoát khỏi những hồi ức không muốn nhớ lại. “Châu Chấn Bang, nam, sinh ngày 7 tháng 9 năm 1945 tại thành phố C. Năm 1964 thi vào học viện Tâm lý trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh, tháng 7 năm 1971 được phân công về làm công tác giảng dạy tại trường Đại học Sư phạm thành phố C, năm 1983 sở Nghiên cứu tâm lý thuộc viện Khoa học xã hội thành phố C được thành lập, Châu Chấn Bang được giao làm chủ nhiệm. Năm 1999, Châu Chấn Bang đột nhiên từ chức rồi bỏ đi đâu không rõ.” Phương Mộc gấp tập tài liệu trên tay lại, “Nhưng theo những gì tôi nắm được thì 5 năm trước Châu Chấn Bang đã đổi tên thành Châu Quốc Thanh sau đó thành lập cô nhi viện Thiên sứ Đường, ông ta hiện đang ở trước mặt tôi!” Thầy Châu gượng cười, “Thật không ngờ, cậu đã điều tra quá tường tận.” “Lần đầu tiên em tới ăn cơm ở Thiên sứ Đường, thầy đã từng đề cập đên việc được đến nghe giảng ở tòa nhà màu trắng cao nhất của trường Đại học Harvard.” Phương Mộc lấy từ trong tập tài liệu một bức ảnh, “Tòa nhà trắng cao nhất ở đại học Harvard chính là tòa William James[1]. Bên ngoài nhìn vào cứ tưởng là tòa lầu hành chính màu trắng, nhưng thực ra bên trong là khoa Tâm lý. Em chỉ cần truy tìm nhân sĩ họ Châu trong số những nhà tâm lý học thành phố C, sẽ dễ dàng tìm thấy những tư liệu về thầy.” [1] William James (11/1/1842-26/8/1910): một nhà tâm lý học và triết học tiên phong người Mỹ. Ông đã viết những cuốn sách có tầm ảnh hưởng về khoa học tâm lý, tâm lý học giáo dục, tâm lý học trải nghiệm tôn giáo, chủ nghĩa thần bí cũng như triết học về chủ nghĩa thực dụng. “Cậu đã mất công xác minh rõ ràng như thế rồi thì cần gì phải hỏi tôi nữa.” “Điều mà em muốn biết là, thầy và Thẩm Tương có quan hệ như thế nào?” Thầy Châu không trả lời, lại rút một điếu thuốc, chậm rãi hút. Phương Mộc không truy hỏi mà kiên nhẫn chờ đợi câu trả lời. Hút xong điếu thuốc, thầy Châu thở dài nặng nề, ngẩng đầu lên nói: “Tiểu Phương, điều cậu muốn biết tôi sẽ nói cho cậu biết. Nhưng cậu hãy coi đây là một sự ăn năn, hối cải về những sai lầm nửa cuộc đời trước kia của một ông già. Tôi không biết sau khi nghe xong cậu có tha thứ cho tôi không, nhưng cậu hãy tin rằng từ khi thành lập Thiên sứ Đường tôi đã quyết định dùng phần đời còn lại của mình để chuộc tội.” Phương Mộc nhìn đôi mắt ướt đầm đìa, lúc này trong đó tràn đầy những giọt nước mắt ăn năn, hối hận. Anh nhẹ nhàng gật đầu. “Được!” Thầy Châu nắm chặt hai bàn tay như tự cổ vũ mình thổ lộ ra những điều bí mật khó hé răng. “Cậu có nghe nói đến Skinners Box bao giờ chưa?” “Hộp Skinner?” Phương Mộc mở to mắt: “Ý thầy muốn nói đến Burrhus Frederic Skinner phải không ạ?” “Đúng vậy!” Thầy Châu thoáng kinh ngạc: “Cậu có thực là một người cảnh sát bình thường không vậy?” Phương Mộc không trả lời. Skinner là một nhà tâm lý học hàng đầu người Mỹ, nhân vật đại biểu cho trường phái Hành động chủ nghĩa nổi tiếng nhất. Skinner phản đối việc chỉ dùng phương pháp phân tích tinh thần để nghiên cứu thảo luận thế giới nội tâm con người. Ông chủ trương dự đoán và khống chế hành động của con người chứ không suy đoán trạng thái và quá trình tâm lý của con người. Ông đưa ra một lý luận “Phản xạ thao tác có điều kiện.” Cho rằng người hoặc động vật muốn đạt đến một mục đích nào đó, có thể coi hành vi nhất định làm hoàn cảnh. Khi hậu quả của hành vi ấy có lợi đối với họ, thì hành vi ấy sẽ được lặp lại trong tương lai. Nếu bất lợi thì hành vi ấy sẽ yếu đi hoặc biến mất. Do đó, con người có thể dùng cách tăng cường hoặc giảm thiểu để tác động đến ảnh hưởng của hậu quả, từ đó dần dần điều chỉnh hành vi ấy. Đó chính là lý luận điều chỉnh hành vi để huấn luyện động vật, và chế ra “Hộp Skinner” nổi tiếng. Trong hộp có gậy khống chế, đĩa thức ăn, ván cầu loại nhỏ. Skinner bỏ động vật như chim bồ câu, chuột… vào bên trong. Nghe nói, ông còn bỏ cả con gái mình vào hộp Skinner làm vật thí nghiệm. Nhưng một nhà khoa học bị tranh cãi và những vụ án này có quan hệ gì với nhau? “Niên đại 80, 90 tư tưởng bị cấm đoán một thời gian dài này bỗng nhiên lại bùng phát trở lại.” Ánh mắt thầy Châu mơ màng, như đang nhớ lại một thời kỳ vĩ đại và nồng cháy, “Tôi đã bị lãng phí quá nhiều thời gian trong thời kỳ “Cách mạng văn hóa”, một khi đã có không gian để triển khai hoài bão của mình, sự kích động của tôi không nói cũng biết. Đời người ngắn ngủi, học giả nào chẳng muốn để lại cho hậu thế một lý luận để đời? Cho nên, sau khi nhận chức chủ nhiệm sở Nghiên cứu tâm lý, tôi đã chọn đề tài mà khi đó theo tôi có thể làm thay đổi quỹ đạo tiến hóa của nhân loại – Kế hoạch Giáo hóa trường.” “Giáo hóa trường có ý nghĩa gì?” “Skinner căn cứ kết quả thực nghiệm suy luận ra con người không coi trọng ý chí tự do, họ bị phụ thuộc vào sự tăng cường khống chế, sắp đặt đơn thuần. Lý luận này tuy bị người đương thời chỉ trích, phản đối nhưng ngược lại để lại cho hậu thế những lợi ích không nhỏ. Liệu pháp thoát khỏi bệnh sợ hãi và bệnh lo lắng buồn phiền đều lấy lý luận hành vi của Skinner làm căn cứ. Skinner mộng tưởng sẽ dùng công trình hành vi để khống chế hành vi của nhân loại. Với tinh thần thực sự cầu thị, tôi rất phấn khởi với vấn đề này, bởi vì trong thời kỳ “Cách mạng văn hóa”, tôi đã nhìn thấy rất nhiều những hành vi ngược lại với bản chất con người. Tôi rất muốn biết cuối cùng cái gì đã dẫn đến sự thất thường tập thể mang tính toàn dân ấy. Nếu như có thể tìm thấy sức mạnh thần kỳ ấy, chúng ta có thể triệt để tăng cường tính xã hội của nhân loại, để từ đó xây dựng nên một thế giới ngày càng hoàn mỹ. Chúng tôi thiết tưởng kiến lập một môi trường tác động bên ngoài làm ảnh hưởng đến hành vi của con người và gọi nó là trường Giáo hóa.” “Ý của thầy là…” Phương Mộc bỗng cảm thấy buồn nôn, “Dùng huấn luyện để bồi dưỡng cá tính con người tiến tới ảnh hưởng đến hành vi – giống như huấn luyện động vật chứ gì?” “Tôi hiểu phản ứng của cậu!” Thầy Châu đau khổ nhắm mắt lại, “Tôi cũng biết kế hoạch này là phản lại luân lý. Nhưng đối với tôi, thành tựu học thuật thực sự là một thứ có sức mê hoặc quá lớn” Chẳng bao lâu, sắc trời bên ngoài bắt đầu u ám, một đám mây đen to tướng dần dần che kín bầu trời, một đám tuyết lớn như sắp ập xuống: Trong căn phòng nhỏ hẹp càng trở nên u tối. Mặt hai người đều chìm trong bóng tối, chỉ có chấm lửa trên đầu thuốc lập lòe. “Toàn bộ kế hoạch chỉ có tôi và trợ lý của tôi nắm được. Trước tiên chúng tôi chọn một số người làm đối tượng thí nghiệm, chủ yếu là con cái những người bình thường. Hằng năm có rất nhiều sinh viên đại học tốt nghiệp đến sở Nghiên cứu tâm lý thực tập. Tôi chọn trong số thực tập sinh một số người bố trí cho họ tiến hành theo dõi những đối tượng thí nghiệm, yêu cầu họ ghi chép khách quan cuộc sống bình thường hàng ngày của các đối tượng này, nhưng không nói cho số thực tập sinh biết nội dung đó có liên quan đến cuộc thí nghiệm. Đồng thời tôi bí mật tuyển một số tình nguyện viên. Những tình nguyện viên này cũng là những người bình thường và đã trải qua kiểm tra chặt chẽ, xác nhận giữa họ không có quan hệ xã hội với nhau. Sau một thời gian theo dõi, nghiên cứu những đối tượng thí nghiệm, tôi bố trí cho tình nguyện viên tạo ra những tình huống bất ngờ đối với họ như bị người lạ ôm, bị dẫn đến nơi tối trời… Sau khi vấn đề xảy ra, tôi yêu cầu tình nguyện viên ký giấy bảo đảm, sau đó phát cho họ một ít tiền thù lao, từ đó họ không liên quan gì nữa. Sau đó chuyển đổi những thực tập sinh khác theo dõi những phản ứng của đối tượng thí nghiệm sau khi xảy ra vấn đề. Đương nhiên, mục đích thí nghiệm cũng như nội dung thí nghiệm đều được giữ bí mật không cho họ biết. Như thế mới có thể bảo đảm bí mật cho mục đích và quá trình thí nghiệm.” “Trong cuộc sống của những đối tượng thí nghiệm, thầy đã tạo ra một số cuộc gặp gỡ?” Phương Mộc nhíu mày. “Đúng vậy!” Thầy Châu khó khăn lắm mới thốt ra được một câu, “Như thế mới có thể làm cho đối tượng thí nghiệm suy nghĩ và hành động theo những ý tưởng của chúng tôi. Nói một cách khác: Họ sẽ sống cuộc sống do chúng tôi sắp đặt.” Phương Mộc ngẩng đầu lên nhìn ông già trước mặt. Ông ta đang khom lưng, cúi đầu giống như một đứa trẻ mắc lỗi, nhưng có ai biết rằng ông ta đã từng có thời kỳ có dụng tâm rất xấu? “Về sau thì sao ạ?” “Đợt thí nghiệm thứ nhất có năm người, ngoài một đứa trẻ tận mắt chứng kiến hành vi tình dục, những người khác sau khi thí nghiệm không thấy xuất hiện phản ứng tinh thần kịch liệt. Thế là mười năm sau, chúng tôi lại tuyển chọn một loạt đối tượng thí nghiệm đợt hai. Lúc đó, lòng tin của tôi rất lớn. Tôi định sẽ tiến hành kế hoạch này trong một thời gian dài. Dùng 20 đến 25 năm để hoàn thành thí nghiệm. Nếu như thí nghiệm hoàn thành thuận lợi, tôi sẽ đạt được thành tựu mà những người khác nằm mơ cũng không có được. Skinner đã chứng minh: Khen thưởng giúp kiến lập hành vi tốt, tôi sẽ chứng minh hình phạt cũng có tác dụng tương tự đối với hành vi của người mình dựng nên. Nhưng hai năm sau, bất ngờ phát sinh…” “Bất ngờ gì ạ?” Phương Mộc vội hỏi. Thầy Châu thở dài, đập nhẹ trán vào thành giường. “Khi đọc một báo cáo theo dõi, tôi phát hiện một đối tượng thí nghiệm có phản ứng rất kỳ lạ, mãnh liệt hơn dự kiến của chúng tôi rất nhiều. Vì đối tượng này do trợ lý của tôi phụ trách tôi bèn hỏi anh ta về tình hình thí nghiệm. Anh ta ấp a ấp úng không muốn nói. Cuối cũng tôi phải hỏi đến lần thứ ba, anh ta mới thừa nhận người tình nguyện viên xảy ra vấn đề – Anh này không làm theo kế hoạch sắp xếp, mà đã cưỡng hiếp cô bé kia…” “Thẩm Tương?” Phương Mộc kêu lên thất thanh. “Đúng” Hai hàng nước mắt nhạt nhòa trên gương mặt già nua của thầy Châu từ từ lăn xuống. “Tôi bị chấn động đến mức không thể hồi phục lại được, trọn một ngày ở nhà không đến cơ quan. Tôi bắt đầu kiểm điểm về những suy nghĩ, những việc làm của mình có phải là nghiên cứu khoa học chân chính không, cũng là lần đầu tiên nảy sinh ý nghĩ rời bỏ thí nghiệm. Sau đó lại xảy ra một sự việc khác khiến tôi hạ quyết tâm.” “Việc gì ạ?” Thầy Châu không trả lời, ông dựa vào thành giường khóc hu hu. Phương Mộc nhìn ông già đang khóc trước mặt, không biết nên ghét bỏ hay thông cảm. Một lúc sau, thầy Châu cuối cùng cũng lấy lại bình tĩnh, ông lấy tay lau nước mắt, run run nói: “Có một đứa trẻ sau khi thí nghiệm chịu không nổi nỗi sợ hãi và tự sát. Thằng bé đó chính là Duy Duy…” “Hả?” Phương Mộc sửng sốt suýt nữa thì nhảy lên, “Con trai của chị Triệu á?” “Đúng” Thầy Châu nhìn Phương Mộc như muốn anh xông đến đánh mình một trận, “Sau khi Duy Duy chết, tôi quyết định từ bỏ kế hoạch Giáo hóa trường. Tôi tiêu hủy hết những ghi chép thực nghiệm, kể cả mấy bài luận văn mà tôi đã tốn bao công sức và tâm huyết viết ra. Sau đó tôi xin từ chức vì tôi cảm thấy tôi không còn đủ tư cách làm một nhà tâm lý. Tôi đổi tên, thoát ra khỏi cuộc sống vốn có, lại ra ngoại thành mua một miếng đất, xây dựng một cô nhi viện, đưa cô Triệu đang trong hoàn cảnh khốn cùng về. Tôi đã làm hại nhiều đứa trẻ, cho nên tôi phải có trách nhiệm bồi dưỡng, nuôi dạy những đứa trẻ đã từng bị bỏ rơi, bị làm hại để chuộc lại những lỗi lầm trước đây tôi đã phạm phải.” Nói xong, thầy Châu thấy như bị rút hết sinh khí, mệt mỏi dựa vào thành giường. Nhưng nhìn biểu hiện của ông, thấy nhẹ nhõm đi nhiều sau khi đã thổ lộ hết những bí mật đã giày vò ông ta nhiều năm qua. Phương Mộc thì ngược lại không thể nào thoải mái được, anh châm một điếu thuốc, tự ra lệnh cho mình phải nhanh chóng lấy lại bình tĩnh. Ông già trước mặt là một người anh rất kính trọng, nhưng kẻ đầu têu của những bi kịch lại chính là ông. Hút xong một điếu thuốc, Phương Mộc giở cặp tài liệu ra, cố gắng dùng cái giọng của người đang làm việc, hỏi: “Thầy Châu, những ghi chép về những thí nghiệm ngày ấy thầy không lưu lại bản nào à? “Đúng vậy!” “Thế thầy có thể nhớ lại tên của những đối tượng làm thí nghiệm và những tình nguyện viên năm đó được không?” “Có một số có thể nhớ.” “Thế thì tốt quá!” Phương Mộc rút trong cặp tài liệu ra một trang giấy, lại đưa cho ông ta một cái bút, “Hãy đánh dấu những cái tên mà thầy nhớ được trong danh sách này.” Thầy Châu đeo kính vào, cầm tờ danh sách lên lướt qua một lượt, mặt biến sắc, ngẩng đầu lên hỏi: “Em lấy đâu ra bản danh sách này?” Phương Mộc mặt lạnh tanh, nói: “Thầy hãy đánh dấu vào đi đã, mọi việc nói sau.” Thầy Châu suy nghĩ một lúc, khoanh tròn mấy cái tên, sau đó đưa trả Phương Mộc. Những cái tên được thầy Châu đánh dấu gồm: Thẩm Tương, Đàm Kỳ, Khương Đức Tiên, Tưởng Bái Nghiêu, Mã Xuân Bồi, Hạ Lê Lê. Nhìn Phương Mộc chau mày, thầy Châu lại hỏi: “Bản danh sách này còn liên quan đến chuyện gì vậy?” Phương Mộc nghĩ một lúc rồi quyết định nói rõ sự thật: “Cảnh sát nghi ngờ Đàm Kỳ giết chết Tưởng Bái Nghiêu, còn Khương Đức Tiên giết chết Mã Xuân Bồi.” “Cái gì?” Thầy Châu giật mình, “Tưởng Bái Nghiêu và Mã Xuân Bồi là tình nguyện viên đối ứng với Đàm Kỳ và Khương Đức Tiên” Phương Mộc mặt tái xanh, “Thầy đã làm gì Đàm Kỳ và Khương Đức Tiên?” “Tôi nghĩ một chút,” thầy Châu vội vã đến mức mặt biến dạng, “Theo kế hoạch, Tưởng Bái Ngiêu đem Đàm Kỳ bỏ vào rạp chiếu phim; Mã Xuân Bồi và Hạ Lê Lê giả làm bố con làm chuyện đồi bại trước mặt Khương Đức Tiên…Đúng rồi, còn Hạ Lê Lê đâu?” “Hạ Lê Lê 6 năm trước đã chết vì bệnh giang mai.” Phương Mộc lãnh đạm trả lời, “Nếu không cô ta cũng sẽ bị Khương Đức Tiên cho tiêu đời.” Sắc mặt thầy Châu xám ngoét, ông ta nhận bản danh sách từ tay Phương Môc, “Thế Hoàng Nhuận Hoa, Quách Nhụy, Thân Bảo Cường, Nhiếp Bảo Khánh là ai?” “Thân Bảo Cường và Nhiếp Bảo Khánh là hai nạn nhân đã chết ngoài hai vụ án mạng kia, cảnh sát nghi ngờ hung thủ là Quách Nhụy và Hoàng Nhuận Hoa.” “Quách Nhụy, Hoàng Nhuận Hoa và Đàm Kỳ, Khương Đức Tiên có quan hệ như thế nào?” Thầy Châu như vẫn ôm một chút hy vọng cuối cùng. “Cảnh sát tin rằng bốn người này là đồng bọn, bao gồm cả La Gia Hải đang bỏ trốn.” Phương Môc nhìn vào mắt thầy Châu, “Là bạn trai của Thẩm Tương!” Thầy Châu há hốc mồm, trố mắt nhìn Phương Mộc, mấy giây sau, ủ rũ ngồi xuống giường, những thanh sắt lâu ngày không được sửa chữa phát ra tiếng kêu cọt kẹt. “Cũng có thể nói…” Thầy Châu lẩm bẩm. “Cũng có thể nói,” Phương Mộc nói nốt hộ ông câu cuối, “Kế hoạch Giáo hóa trường chưa hề kết thúc.” “Không thể!” Thầy Châu đứng bật dậy, ông gần như mất hồn, “Ghi chép về những thí nghiệm năm đó tôi đều đã tiêu hủy hết, họ không thể biết thân phận của những người tình nguyện.” “Không có gì là không có thể!” Phương Mộc Bước lên phía trước một bước, ghé sát vào mặt thầy Châu, “Năm ấy trợ lý của thầy là ai?” Câu hỏi ấy như thức tỉnh thầy Châu, ông nhìn Phương Mộc trừng trừng, nhưng rồi cũng nhanh chóng lấy lại được bình tĩnh. “Tôi xin lỗi, tạm thời chưa thể nói cho cậu biết được, hãy cho tôi thời gian mấy ngày, tôi nhất định sẽ làm rõ chuyện này.” Thầy Châu nói khẩn thiết, “Đây là cội nguồn tội lỗi của tôi, hãy cho tôi một cơ hội chuộc tội.” Phương Mộc nhìn ông một lát, thong thả nói: “Được, thầy hãy giữ liên hệ với em. “Nói xong anh đứng dậy cáo từ, khi bước chân ra đến cửa, Phương Mộc bất ngờ quay lại, hỏi nhỏ: “Kẻ tình nguyện năm đó cưỡng hiếp Thẩm Tương tên là gì?” “Vương Tăng Tường, lúc đó là công nhân công ty nước.” Thầy Châu ngồi yên bất động, mắt nhìn ra bên ngoài tối om, “Xin lỗi, khi đó tôi không đủ dũng khí báo cảnh sát.” Bầu trời như cố chịu trọn một ngày, cuối cùng những bông hoa tuyết bắt đầu rơi, tuyết càng rơi càng dày. Mặt đất nhanh chóng phủ một màu trắng mênh mang. Phương Mộc dừng xe lại bên đường, gọi điện thoại cho tổ chuyên án kiểm tra thông tin về Vương Tăng Tường và dặn đi dặn lại nếu lạc mất tung tích của anh ta thì phải lập tức tổ chức theo dõi 24/24 giờ, bởi vì mục tiêu của La Gia Hải chính là anh ta. Nói chuyện điện thoại xong, Phương Mộc tắt máy, mệt mỏi ngồi dựa vào ghế xe, nghĩ một lúc, anh ta bật máy điện thoại lên. Quả nhiên, điện thoại của Biên Bình gọi đến ngay sau đó, hỏi thẳng anh Vương Tăng Tường có chuyện gì. Phương Mộc nói khi nào về sẽ báo cáo cụ thể. Biên Bình cảm thấy tinh thần của Phương Mộc có vẻ khác thường, không truy hỏi nữa, chỉ dặn một câu: “Lái xe cẩn thận!” rồi gác máy. Nhìn về phía trước, bầu trời xuống thấp tưởng chừng như sắp sụp xuống, con đường ngoại ô giống như chạy thẳng đến chân trời nơi mây đen đang vần vũ. Nhìn về phía sau, không xa là Thiên sứ Đường đang chìm trong tuyết trắng, cho dù có cố gắng phân biệt cũng không thể nhìn thấy những ánh sáng đèn le lói. Thiên sứ Đường. Giáo hóa trường. Phương Mộc nhắc đi nhắc lại hai cái tên đó, bỗng nhiên hiểu ra vì sao thầy Châu lại đặt tên cho cô nhi viện là Thiên sứ Đường. Thiên sứ có đôi cánh tự do bay lượn, không bị giáo hóa, không bị làm cho ô uế. Phương Mộc nhấn chân ga, chiếc xe jeep phóng vụt lên trên con đường tuyết phủ trắng xóa. Chạy qua khu vực ngoại thành, những ánh đèn trong nội thành đã thấp thoáng hiện ra. Trời đất vừa mới liên tiếp hòa thành màu một màu trắng bỗng biến thành u ám buồn tẻ, nặng nề bao trùm lên thành phố một màu xám xịt, trông giống như một cái chảo gang lớn từ trên trời chụp xuống. Trong xe không lạnh, Phương Mộc thấy phía trước thành phố càng lúc càng gần, nhưng tự nhiên anh cảm thấy người phát run lên. Anh nghĩ đến Hoàng Vĩnh Hiếu, nghĩ đến Mã Khải, nghĩ đến Tôn Phổ, nghĩ đến Hạ Thiên… Thành phố này chính là một trường giáo hóa lớn vô cùng, nguy cơ rình rập khắp nơi.


Trước Sau